Thi công gạch bê tông nhẹ như thế nào?


Gạch bê tông nhẹ là loại vật liệu mới, cần một quy trình thi công mới, rất khác với quy trình thi công gạch đất nung.
>>>không gian ấm cúng bằng tường gạch bê tông
>>>Bí quyết chống thấm nhà

thi công gạch nhẹ


Gạch bê tông nhẹ thông thường được sử dụng làm tường bao che trong kết cầu nhà KHUNG chịu lực và làm vách ngăn.

Đặc điểm gạch bê tông nhẹ được hình thành từ vữa xi măng, cát và các bong bóng khí kín, do đó khả năng chống thấm rất cao. Tuy nhiên, bề mặt của gạch lại có khả năng hút nước mạnh, xây trát bằng vữa thông thường.

Lưu ý: phải để cho gạch bê tông nhẹ thật KHÔ trước khi đưa vào xây, trát.

Phương pháp kiểm tra độ KHÔ: đối chiếu với một viên gạch mẫu từ nhà cung cấp, tưới cùng một lượng nước (khoảng 1 nắp nước suối) lên bề mặt 2 viên gạch: THỜI GIAN hút hết lượng nước nước của viên gạch đối chứng và viên gạch mẫu PHẢI NHƯ NHAU.

Lưu ý: gạch để ngoài trời mưa sẽ không đạt  yêu cầu này, sau khi bị ngấm nước mưa phải đưa gạch vào nơi khô ráo cho đến khi ĐỦ KHÔ.

Thành phần vữa:

Vữa xây trát (tô): dùng vữa xây chuyên dùng của các công ty xi măng hoặc theo một trong các công thức sau (tính theo trọng lượng)

1. Xi măng - Cát - Nước: 1-5-0.5

2. Xi măng - Vôi - Cát - Nước: 1-1-6-0.5

- Xi măng: PCB 40 hoặc PC 40

- Cát: cát vàng, sạch, độ hạt nhỏ hơn 2 mm.

- Nước trộn vữa: nước ngọt, sạch, không phèn, không mặn.

Phương pháp thi công gạch nhẹ

1. Phương pháp xây trát (tô): do gạch bê tông nhẹ bảo hòa nước rất nhanh, do đó KHÔNG tưới nước làm ướt trong suốt quá trình xây trát, trừ khi bị "cháy" vữa khi trát (có thể do thời tiết quá nóng) mới cho phép tưới ẩm tường trước khi trát (chỉ tưới qua 1 lần nước vì gạch bảo hòa nước rất nhanh) và chỉ trát sau khi tưới ẩm tường tứ 1 giờ trở lên.

- Thời gian giữa 2 công đoạn xây và trát (tô): từ 1 ngày trở lên, không được xây rồi trát (tô) ngay.

- KHÔNG trát tường quanh thời điểm giữa trưa nắng

- Chiều dày lớp vữa xây và trát từ 10-15 mm (không nên quá 15 mm).

- KHÔNG  dùng vữa trát cường độ lớn hơn M75.

- KHÔNG trát hồ dầu lên bề mặt viên gạch trước khi xây trát, trừ những chỗ đi ống kỹ thuật (phải đóng lưới và trát hồ dầu lên mặt có đóng lưới trước khi trát).

- CẦN có sắt râu trên cột 2 bên bức tường sao cho mỗi 2 hàng gạch chèn 1 thanh sắt râu.

2. Phương pháp dưỡng hộ: tưới nước dưỡng ẩm tường từ 4 đến 5 ngày (sau khi tô trát 1 ngày).
Xem thêm:
bộ dụng cụ xây Trát gạch nhẹ

Hướng dẫn thi công gạch nhẹ bê tông

Thi công gạch bê tông nhẹ như thế nào?


Gạch bê tông nhẹ là loại vật liệu mới, cần một quy trình thi công mới, rất khác với quy trình thi công gạch đất nung.
>>>không gian ấm cúng bằng tường gạch bê tông
>>>Bí quyết chống thấm nhà

thi công gạch nhẹ


Gạch bê tông nhẹ thông thường được sử dụng làm tường bao che trong kết cầu nhà KHUNG chịu lực và làm vách ngăn.

Đặc điểm gạch bê tông nhẹ được hình thành từ vữa xi măng, cát và các bong bóng khí kín, do đó khả năng chống thấm rất cao. Tuy nhiên, bề mặt của gạch lại có khả năng hút nước mạnh, xây trát bằng vữa thông thường.

Lưu ý: phải để cho gạch bê tông nhẹ thật KHÔ trước khi đưa vào xây, trát.

Phương pháp kiểm tra độ KHÔ: đối chiếu với một viên gạch mẫu từ nhà cung cấp, tưới cùng một lượng nước (khoảng 1 nắp nước suối) lên bề mặt 2 viên gạch: THỜI GIAN hút hết lượng nước nước của viên gạch đối chứng và viên gạch mẫu PHẢI NHƯ NHAU.

Lưu ý: gạch để ngoài trời mưa sẽ không đạt  yêu cầu này, sau khi bị ngấm nước mưa phải đưa gạch vào nơi khô ráo cho đến khi ĐỦ KHÔ.

Thành phần vữa:

Vữa xây trát (tô): dùng vữa xây chuyên dùng của các công ty xi măng hoặc theo một trong các công thức sau (tính theo trọng lượng)

1. Xi măng - Cát - Nước: 1-5-0.5

2. Xi măng - Vôi - Cát - Nước: 1-1-6-0.5

- Xi măng: PCB 40 hoặc PC 40

- Cát: cát vàng, sạch, độ hạt nhỏ hơn 2 mm.

- Nước trộn vữa: nước ngọt, sạch, không phèn, không mặn.

Phương pháp thi công gạch nhẹ

1. Phương pháp xây trát (tô): do gạch bê tông nhẹ bảo hòa nước rất nhanh, do đó KHÔNG tưới nước làm ướt trong suốt quá trình xây trát, trừ khi bị "cháy" vữa khi trát (có thể do thời tiết quá nóng) mới cho phép tưới ẩm tường trước khi trát (chỉ tưới qua 1 lần nước vì gạch bảo hòa nước rất nhanh) và chỉ trát sau khi tưới ẩm tường tứ 1 giờ trở lên.

- Thời gian giữa 2 công đoạn xây và trát (tô): từ 1 ngày trở lên, không được xây rồi trát (tô) ngay.

- KHÔNG trát tường quanh thời điểm giữa trưa nắng

- Chiều dày lớp vữa xây và trát từ 10-15 mm (không nên quá 15 mm).

- KHÔNG  dùng vữa trát cường độ lớn hơn M75.

- KHÔNG trát hồ dầu lên bề mặt viên gạch trước khi xây trát, trừ những chỗ đi ống kỹ thuật (phải đóng lưới và trát hồ dầu lên mặt có đóng lưới trước khi trát).

- CẦN có sắt râu trên cột 2 bên bức tường sao cho mỗi 2 hàng gạch chèn 1 thanh sắt râu.

2. Phương pháp dưỡng hộ: tưới nước dưỡng ẩm tường từ 4 đến 5 ngày (sau khi tô trát 1 ngày).
Xem thêm:
bộ dụng cụ xây Trát gạch nhẹ

Đọc thêm..

Tạo không gian ấm cúng bằng tường gạch

Sự thô mộc của những bức tường gạch không trát, không sơn phù hợp với nhiều không gian khác nhau như phòng khách, chỗ nghỉ ngơi hay nơi nấu nướng.
 =>tư vấn xây chát và lựa chọn chủng loại cho gạch không nung
=>Bộ dụng cụ xây gạch không nung
không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát




Không gian ấm cúng bằng tường gạch không nung

Tạo không gian ấm cúng bằng tường gạch

Sự thô mộc của những bức tường gạch không trát, không sơn phù hợp với nhiều không gian khác nhau như phòng khách, chỗ nghỉ ngơi hay nơi nấu nướng.
 =>tư vấn xây chát và lựa chọn chủng loại cho gạch không nung
=>Bộ dụng cụ xây gạch không nung
không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát

không gian ấm cúng của những bức tường gạch không chát




Đọc thêm..
TƯ VẤN XÂY TRÁT VÀ LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI GẠCH KHÔNG NUNG KHOÁNG TỔNG HỢP

I. Lựa chọn gạch xây :
Vì viên gạch có cường độ chịu lực cao và khả năng chống thấm, chống cháy, cách nhiệt, cách âm tốt nên tuỳ theo nhu cầu của nhà thiết kế có thể xây tường đơn hoặc tường đôi cho khung bao bên ngoài.Còn nếu là vách ngăn thông thường thì chỉ cần thay tường đơn để tiết kiệm chi phí cho nhà đầu tư.

Tư Vấn Xây Chát Và Lựa Chọn Chủng Loại Cho Gạch Không Nung

II. Lựa chọn vữa & Quy cách xây – trát:
1. Lựa chọn vữa xây trát và bộ dụng cụ trát
- Dùng vữa xây thông thường (xi măng + cát).
- Vữa xây phải đạt mác ≥ 50 (+75).
- Lớp trát ưu tiên sử dụng vữa mác 75.
- Vì gạch không nung TANOI có cường độ chịu nén cao, chống thấm tốt nên không trộn vữa xây, trát quá ướt (trộn dẻo vữa).
2. Quy cách xây:
-  Có giải pháp viên 1/2 (gạch Demi) để xây chèn hai đầu hoặc xây sole không trùng mạch.
- Tại điểm giao nối giữa tường gạch khoáng tổng hợp và cột bê tông, nên đặt thêm các lưới thép để tăng tính liên kết và trung bình cứ 400mm tùy theo    chiều cao của các hàng gạch, gắn râu thép (khoan lỗ vào cột bê tông) để nốitường và cột (giống như quy cách xây gạch đất sét nung).
-Tại các vị trí sẽ lắp khung cửa, nên xây chèn gạch 2 lổ (gạch đinh) để việc liên kết khung cửa vào khối xây được bền chắc hơn.
3. Quy cách trát:
- Vì gạch không nung TANOI có khả năng chống thấm rất tốt, nên vữa trát phải trộn dẻo, nhiều xi măng (mác75).
- Lớp trát không quá dầy (< 10mm) để tránh hiện tượng xệ vữa, gây nứt chân chim và lãng phí. Nên trát vữa vào bức tường làm 2 lớp đè lên nhau, mỗi lớp dầy dưới 5mm trước khi xoa nhẵn bề mặt.
- Với những điểm cần trát bù sau khi thi công điện nước, phải gắn lớp lưới thép vào lớp gạch trước khi trát để tránh rạn chân chim giữa 2 lớp trát trước và sau.
- Có thể áp dụng Quy chuẩn, Quy cách trát cột bê tông trong quá trình trát tường gạch không nung TANOI.
III. Những điểm cần lưu ý khác:
1. Kích thước và trọng lượng gạch phù hợp sẽ giúp cho người thợ đảm bảo được chất lượng và sự ổn định của khối xây. VD: rải vữa đều và đủ, căn chỉnh viên gạch chính xác.
2. Khả năng chống thấm của gạch TANOI:
Mặc dù trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 không đề cập đến khả năng chống thấm và tốc độ hút nước của gạch không nung khoáng tổng hợp (gạch TANOI) xây tường có trát nhưng chúng tôi đề nghị khách hàng nên lựa chọn hoặc quản lý tách biệt giữa Gạch TANOI và gạch không nung khác cũng như gạch nung vì những lý do sau:
- Tốc độ hút nước của Gạch TANOI (chống thấm) và gạch khác (gach nung, gạch block…) là khác nhau.Điều này dẫn đến chất lượng khối xây rất khác nhau.
- Với Gạch có khả năng chống thấm cao, không nên trộn vữa quá ướt vì có thể làm giảm tốc độ xây trát khi thi công.
- Với Gạch có khả năng chống thấm cao, khối xây sẽ bền vững và an toàn hơn, đặc biệt là đối với những bức tường xây bao ngoài, xây nhà vệ sinh...
IV. Chất lượng sản phẩm:
Sản phẩm làm ra đạt chất lượng rất tốt có nhiều tính vượt trội cụ thể là:
- Cường độ chịu nén của gạch đặc đạt từ 130-150kg/cm2
- Cường độ kháng uốn : 43kg/cm2
- Độ hút ẩm              : < 8%
- Độ chịu nhiệt         : 1000 oC
- Chịu được môi trường mặn và nước lợ
- Sản phẩm nhẵn đều
- Tỷ khối đặc từ 1900-2100kg/ m3
- Có thể đục lỗ tới 30% mà viên gạch mác vẫn đạt 70 - 90kg/ cm2 và tỉ trọng còn 1.215 kg/ m3
- Vì viên gạch chắc nên chống thấm rất tốt.
tư vấn xây trát


Do viên gạch chắc, chống thấm, cách nhiệt, cách âm và chống cháy tốt nên xử dụng vữa xây và trát ít hơn so với gạch nung. Tổng khối lượng của bức tường sẽ nhẹ hơn so với gạch đất nung.
Thông thường khi tô trát bức tường xây bằng gạch đất nung thì độ dày khoảng 1,5 - 2 cm thậm chí hơn 2 cm khi bức tường không phẳng.
Sử dụng Gạch TANOI Polymer, chỉ cần tô trát với độ dày khoảng 0,8 cm. Hơn nữa, khi xây chỉ cần dùng hồ dầu là có thể dán những viên gạch lại với nhau mà độ kết dính vẫn đạt rất cao so với dùng vữa xây.

So sánh đặc tính của 2 loại gạch
Đặc tính
Gạch Ống không nung
Gạch Ống đất sét nung
Màu sắc
Màu xám bê tông
Màu đỏ
Kích thước
Giống nhau
Giống nhau
Độ rỗng
Bằng nhau
Bằng nhau
Trọng lượng
Bằng nhau
Bằng nhau
Cường độ nén
10 MPa
7.5 MPa
Nguyên liệu
Xi măng + cát + đá + phụ gia đông kết
Đất sét
Mỹ thuật
Rất thẳng, phẳng như khối bê tông đúc
Bị vênh do quá trình nung

Xem thêm:

Tư Vấn Xây Trát Và Lựa Chọn Chủng Loại Cho Gạch Không Nung

TƯ VẤN XÂY TRÁT VÀ LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI GẠCH KHÔNG NUNG KHOÁNG TỔNG HỢP

I. Lựa chọn gạch xây :
Vì viên gạch có cường độ chịu lực cao và khả năng chống thấm, chống cháy, cách nhiệt, cách âm tốt nên tuỳ theo nhu cầu của nhà thiết kế có thể xây tường đơn hoặc tường đôi cho khung bao bên ngoài.Còn nếu là vách ngăn thông thường thì chỉ cần thay tường đơn để tiết kiệm chi phí cho nhà đầu tư.

Tư Vấn Xây Chát Và Lựa Chọn Chủng Loại Cho Gạch Không Nung

II. Lựa chọn vữa & Quy cách xây – trát:
1. Lựa chọn vữa xây trát và bộ dụng cụ trát
- Dùng vữa xây thông thường (xi măng + cát).
- Vữa xây phải đạt mác ≥ 50 (+75).
- Lớp trát ưu tiên sử dụng vữa mác 75.
- Vì gạch không nung TANOI có cường độ chịu nén cao, chống thấm tốt nên không trộn vữa xây, trát quá ướt (trộn dẻo vữa).
2. Quy cách xây:
-  Có giải pháp viên 1/2 (gạch Demi) để xây chèn hai đầu hoặc xây sole không trùng mạch.
- Tại điểm giao nối giữa tường gạch khoáng tổng hợp và cột bê tông, nên đặt thêm các lưới thép để tăng tính liên kết và trung bình cứ 400mm tùy theo    chiều cao của các hàng gạch, gắn râu thép (khoan lỗ vào cột bê tông) để nốitường và cột (giống như quy cách xây gạch đất sét nung).
-Tại các vị trí sẽ lắp khung cửa, nên xây chèn gạch 2 lổ (gạch đinh) để việc liên kết khung cửa vào khối xây được bền chắc hơn.
3. Quy cách trát:
- Vì gạch không nung TANOI có khả năng chống thấm rất tốt, nên vữa trát phải trộn dẻo, nhiều xi măng (mác75).
- Lớp trát không quá dầy (< 10mm) để tránh hiện tượng xệ vữa, gây nứt chân chim và lãng phí. Nên trát vữa vào bức tường làm 2 lớp đè lên nhau, mỗi lớp dầy dưới 5mm trước khi xoa nhẵn bề mặt.
- Với những điểm cần trát bù sau khi thi công điện nước, phải gắn lớp lưới thép vào lớp gạch trước khi trát để tránh rạn chân chim giữa 2 lớp trát trước và sau.
- Có thể áp dụng Quy chuẩn, Quy cách trát cột bê tông trong quá trình trát tường gạch không nung TANOI.
III. Những điểm cần lưu ý khác:
1. Kích thước và trọng lượng gạch phù hợp sẽ giúp cho người thợ đảm bảo được chất lượng và sự ổn định của khối xây. VD: rải vữa đều và đủ, căn chỉnh viên gạch chính xác.
2. Khả năng chống thấm của gạch TANOI:
Mặc dù trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 không đề cập đến khả năng chống thấm và tốc độ hút nước của gạch không nung khoáng tổng hợp (gạch TANOI) xây tường có trát nhưng chúng tôi đề nghị khách hàng nên lựa chọn hoặc quản lý tách biệt giữa Gạch TANOI và gạch không nung khác cũng như gạch nung vì những lý do sau:
- Tốc độ hút nước của Gạch TANOI (chống thấm) và gạch khác (gach nung, gạch block…) là khác nhau.Điều này dẫn đến chất lượng khối xây rất khác nhau.
- Với Gạch có khả năng chống thấm cao, không nên trộn vữa quá ướt vì có thể làm giảm tốc độ xây trát khi thi công.
- Với Gạch có khả năng chống thấm cao, khối xây sẽ bền vững và an toàn hơn, đặc biệt là đối với những bức tường xây bao ngoài, xây nhà vệ sinh...
IV. Chất lượng sản phẩm:
Sản phẩm làm ra đạt chất lượng rất tốt có nhiều tính vượt trội cụ thể là:
- Cường độ chịu nén của gạch đặc đạt từ 130-150kg/cm2
- Cường độ kháng uốn : 43kg/cm2
- Độ hút ẩm              : < 8%
- Độ chịu nhiệt         : 1000 oC
- Chịu được môi trường mặn và nước lợ
- Sản phẩm nhẵn đều
- Tỷ khối đặc từ 1900-2100kg/ m3
- Có thể đục lỗ tới 30% mà viên gạch mác vẫn đạt 70 - 90kg/ cm2 và tỉ trọng còn 1.215 kg/ m3
- Vì viên gạch chắc nên chống thấm rất tốt.
tư vấn xây trát


Do viên gạch chắc, chống thấm, cách nhiệt, cách âm và chống cháy tốt nên xử dụng vữa xây và trát ít hơn so với gạch nung. Tổng khối lượng của bức tường sẽ nhẹ hơn so với gạch đất nung.
Thông thường khi tô trát bức tường xây bằng gạch đất nung thì độ dày khoảng 1,5 - 2 cm thậm chí hơn 2 cm khi bức tường không phẳng.
Sử dụng Gạch TANOI Polymer, chỉ cần tô trát với độ dày khoảng 0,8 cm. Hơn nữa, khi xây chỉ cần dùng hồ dầu là có thể dán những viên gạch lại với nhau mà độ kết dính vẫn đạt rất cao so với dùng vữa xây.

So sánh đặc tính của 2 loại gạch
Đặc tính
Gạch Ống không nung
Gạch Ống đất sét nung
Màu sắc
Màu xám bê tông
Màu đỏ
Kích thước
Giống nhau
Giống nhau
Độ rỗng
Bằng nhau
Bằng nhau
Trọng lượng
Bằng nhau
Bằng nhau
Cường độ nén
10 MPa
7.5 MPa
Nguyên liệu
Xi măng + cát + đá + phụ gia đông kết
Đất sét
Mỹ thuật
Rất thẳng, phẳng như khối bê tông đúc
Bị vênh do quá trình nung

Xem thêm:
Đọc thêm..

Giải pháp móng trong xây dựng dân dụng và công nghiệp

Việc luận chứng giải pháp móng có ý nghĩa rất quan trọng, từ đó mới có thể đề xuất dạng công tác, khối lượng khảo sát hợp lý, đầy đủ. Việc luận chứng được tiến hành trên cơ sở đã có tài liệu khảo sát địa chất công trình ở giai đoạn trước và quy mô công trình dự kiến. Việc chúng ta là luận chứng giải pháp móng cho phù hợp. Tất nhiên, người khảo sát địa chất công trình không phải là người thiết kế móng, nhưng phải có kiến thức nhất định về nền móng để có thể tư vấn cho bên thiết kế giải pháp móng phù hợp (nếu công trình đó không có gì đặc biệt).
>>>Bộ dụng cụ ốp lát
>>>Bộ dụng cụ xây gạch nhẹ

Các giải pháp móng trong xây dựng dân dụng và công nghiệp


Nhưng không phải ai cũng nhận ra ý nghĩa quan trọng của việc luận chứng này, đặc biệt là sinh viên và kỹ sư địa chất công trình ít kinh nghiệm. Đầu tiên chúng ta phải hiểu công tác khảo sát địa chất công trình giúp cho nhà thiết kế lựa chọn giải pháp móng kinh tế nhất, nhưng phải đảm kỹ thuật, an toàn. Tức là bao giờ cũng chọn giải pháp móng chi phí thấp nhất, thi công đơn giản nhất. Sau khi tính toán về ổn định (theo sức chịu và biến dạng), phương án móng đó đảm bảo thì được chọn. Nếu không đảm bảo ổn định, phương án móng khác sẽ được lựa chọn nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, đương nhiên chi phí sẽ tốn kém hơn. Mức độ chi phí tăng dần (so sánh một cách tương đối thôi) theo các kiểu móng như sau:

Móng băng đơn giản.

Móng băng đã được gia cố bằng cọc tre, cừ tràm, đệm cát,…

Móng cọc đóng.

Móng cọc ép.

Móng cọc khoan nhồi.

Việc luận chứng giải pháp móng đòi hỏi sinh viên địa chất công trình phải có kiến thức nhất định về nền móng, kinh nghiệm thực tế (cái này thì gần như không có gì) và có tư duy logic. Trong đồ án môn học, có sinh viên thiết kế chiều rộng móng nông lên đến 4 → 5m trong với nhà thấp tầng mà chẳng suy nghĩ, thắc mắc gì cả?!. Nguyên nhân do tính toán sai mà không hiểu được móng thực tế như thế nào??? Hoặc hiểu rất mơ hồ về đất tốt, đất yếu nên việc chọn lớp đất đá để đặt móng không hợp lý. Ví dụ với nhà 3 tầng, đó là lớp đất tốt để đặt móng nông, nhưng với nhà 7 → 8 tầng thì không thể đặt móng vào lớp này được. Khái niệm đất tốt, đất yếu chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào quy mô công trình cụ thể và tải trọng truyền xuống móng. Ngoài ra, bao kiến thức học về nền móng (thầy Phương, thầy Thịnh, thầy Hồng, thầy Phóng dạy,…) được học không giúp ích gì đối với rất nhiều SV khi vẽ cái móng. Hiểu một cách đơn giản là không ra một hình thù gì cả, nhìn rất nực cười (người không học họ cũng không vẽ cái móng tệ như vậy ).

Đầu tiên phải nói đến tải trọng công trình truyền xuống móng, có 2 kiểu là truyền xuống cột (tải trọng tập trung, tính trên 1 cột, thường tính cho đài cọc) và tải trọng rải đều, tính theo chiều dài móng (móng băng). Tải trọng truyền xuống có liên quan đến phương án móng.

Tư duy lối mòn cứ nhà thấp tầng là móng nông, trung tầng là móng cọc ép hoặc cọc đóng, cao tầng phải là cọc khoan nhồi là không đúng. Việc đào tạo thiếu cơ sở thực tiễn, nạn sao chép đồ án, ý thức học tập của sinh viên làm ảnh hướng đáng kể chất lượng bản đồ án.

1. Phương án móng nông:

Móng nông được sử dụng đối với công trình quy mô vừa và nhỏ (thường ≤ 5 tầng). Đây là loại móng rất phổ biến ở Việt Nam và là loại móng “rẻ” nhất. Loại móng này tận dụng khả năng làm việc của các lớp đất phía trên cùng. Chính vì vậy khả năng ổn định về sức chịu tải (đại diện là chỉ tiêu sức chịu tải quy ước R0) và biến dạng (mô đun tổng biến dạng E0) của các lớp đất này quyết định tới sự ổn định của công trình.

Điều kiện địa chất công trình như thế nào thì sử dụng phương án móng nông? Nhìn chung, các lớp đất sét (sét pha) ở trạng thái dẻo cứng đến cứng có bề dày đủ lớn (thường 5 → 7 m) phân bố phía trên cùng đều có thể đặt móng nông. Chiều sâu chôn móng phổ biến từ 0.5m đến 3m, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bề dày lớp đất lấp, chiều sâu mực nước dưới đất, sự phân bố của đất yếu. Chiều sâu chôn móng càng lớn, khả năng chịu tải của đất nền càng cao, nhưng cần chú ý đến các lớp đất yếu (bùn hoặc đất loại sét có trạng thái dẻo chảy, chảy) phân bố dưới nó. Nếu có đất yếu nằm ngay dưới lớp đất tốt (khá phổ biến) và nằm trong phạm vi ảnh hưởng của ứng suất gây lún (thường 5 → 10 m dưới đáy móng), hạn chế chiều sâu chôn móng để tận dụng bề dày của lớp tốt bên trên. Nếu chiều sâu chôn móng quá lớn (chi phí đào đắp cao, ảnh hưởng đến các công trình lân cận khi thi công) thì cần xem xét đến giải pháp khác như cọc tre, cừ tràm (nếu có nước dưới đất) hoặc giải pháp ép cọc.

Trong tính toán thiết kế móng nông, kích thước móng phải có kích thước phù hợp thường 0.8m đến 1.4m. Kích thước móng lớn hơn thường phi thực tế, tính toán góc mở sẽ phức tạp và cos nền nhà (mà hầu như không ai quan tâm). Khi bài toán sức chịu tải đã ổn (tức tải trọng công trình truyền xuống nhỏ hơn khả năng chịu tải của đất nền), cần phải kiểm tra độ lún của móng có đảm bảo không (tức là bài toán biến dạng)? Nhà thông thường nhà có độ lún giới hạn Sgh ≤ 8 cm.

Chỉ một trong hai bài toán sức chịu tải hoặc biến dạng không thoả mãn thì phải chuyển phương án móng khác, đó chính móng cọc.

Nhưng phần lớn Đồ án hiện nay bỏ qua phần kiểm tra, tính toán này và tuỳ tiện chọn ngay móng cọc. Như vậy là thiếu sót! Chỉ những ai đã đi làm và đã va chạm với việc thiết kế móng mới có khả năng tư duy chọn phương án móng phù hợp mà không cần tính toán.

2. Phương án móng cọc ép, cọc đóng (cọc ma sát)

Được sử dụng khi phương án móng nông không đáp ứng được về mặt kỹ thuật (không ổn định, biến dạng nhiều) hoặc chi phí xử lý nền trong móng nông quá tốn kém. Có thể do địa tầng chủ yếu gồm các lớp đất yếu phân bố ở phía trên, đất tốt lại nằm sâu phía dưới, hoặc bề dày lớp đất tốt phía trên không đủ lớn, bề dày không ổn định, đất yếu lại phân bố ngay phía dưới với bề dày lớn. Việc chọn giải pháp móng cọc phải có cơ sở, khi tính toán móng nông không đảm bảo kỹ thuật. ( Trường hợp này tôi không đề cập đến các loại máy ép cọc tải trọng lớn hiện nay).

Khi thiết kế móng cọc cần lưu ý các vấn đề sau:

Chọn cọc có kích thước, thép chủ, thép đai phù hợp với thực tế như 200×200, 250×250, 300×300, 350×350, 400×400,…

Chọn độ sâu cọc phải phù hợp với thực tế, tức là có thể thi công bình thường được. Thường sức chịu tải của cọc thiết kế (PTK) được chọn là giá trị nhỏ nhất tính theo vật liệu (PVL), thí nghiệm trong phòng (Pđn) và thí nghiệm hiện trường (Pht – tính theo xuyên tĩnh CPT, xuyên tiêu chuẩn SPT). Để cọc đạt được như yêu cầu thiết kế thì phải đảm bảo:

PVL > Pép cọc > (2÷3) x PTK

Trong đó:

PVL : Sức chịu tải của cọc theo vật liệu.

Pép cọc : Lực ép đầu cọc.

PTK : Sức chịu tải của cọc theo thiết kế.

Rất nhiều SV đặt cọc quá sâu so với thực tế, dẫn đến Pđn (hoặc Pht) có giá trị xấp xỉ thậm chí còn lớn hơn PVL?! Điều đó phi lý vì không thể nào đưa cọc xuống độ sâu đó với biện pháp ép hay đóng thông thường.

Ví dụ: PVL = 120 T, Pđn = 80 T ⇒ PTK= Pđn = 80 T (vì nhỏ hơn).

PVL = 120 T, Pđn = 180 T ⇒ PTK= PVL = 120 T (vì nhỏ hơn).

Đáng tiếc là những lỗi này xảy ra rất phổ biến.

Trường hợp đặt cọc nông quá dẫn đến Pđn (hoặc Pht) nhỏ hơn nhiều PVL, nên không tận dụng khả năng làm việc của cọc, gây lãng phí (phải tăng số cọc trong đài trong khi đó chỉ tăng mỗi cọc thêm 1 vài mét là sức chịu tải tăng lên). Chiều của cọc thường được quyết định bởi Pép cọc hoặc theo độ chối với cọc đóng. Từ đó dẫn đến PTK thường dao động trong một phạm vi nhất định như sau:

15 Đến 25 T (cọc 200×200)

20 Đến 35 T (cọc 250×250)

35 Đến 55 T (cọc 300×300)

50 Đến 70 T (cọc 350×350)

Như vậy với kích thước cọc xác định, PTK chỉ đạt đến 1 giá trị nào đó, dẫn đến độ sâu cọc thiết kế phải phù hợp (chứ không phải đặt đâu cũng được). Còn số lượng cọc trong 1 đài thì sao? Khi tính toán, nhiều SV sử dụng kiểu làm tròn số học, tức là làm tròn lên nếu số lẻ lớn hơn 0.5 (ví dụ 3.6 được làm tròn thành 4 cọc) và làm tròn xuống nếu số lẻ nhỏ hơn 0.5 (ví dụ 3.2 được làm tròn thành 3 cọc). Trường hợp làm tròn xuống rất nguy hiểm vì số cọc còn lại phải gánh thêm tải trọng dư thừa kia, dễ gây mất ổn định.

Ngoài ra còn chú ý đến điều kiện và phương pháp thi công. Khu vực đô thị không được dùng phương pháp đóng cọc, khu vực chật hẹp không sử dụng được phương pháp ép đối tải (phải sử dụng phương pháp neo), nếu là nhà xây chen thì không thể ép sát vào nhà bên cạnh được, nhiều trường hợp cọc không đạt độ sâu thiết kế do ma sát của các lớp đất phía trên quá lớn (dẫn đến trường hợp khoan mồi),…

3. Phương án móng cọc khoan nhồi:

Phương án móng cọc nhồi thường được với nhà cao tầng (thường trên 10 tầng). Rõ ràng cọc khoan nhồi chi phí tốn kém hơn so với cọc ép nên không ai muốn sử dụng, trừ trường hợp bắt buộc do cọc ép (hoặc cọc đóng) không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật. Thật sai lầm khi nghĩ rằng cứ nhà cao tầng là phải sử dụng cọc khoan nhồi! Tại khu đô thị mới Linh Đàm, Định Công,…, chung cư quy mô 12 ÷ 14 tầng đều sử dụng cọc đóng (đều không có hầm ngầm). Cần phải khẳng định rằng chất lượng cọc ép thường ổn định và dễ kiểm soát hơn nhiều so với cọc khoan nhồi.

Với nhà cao tầng, tải trọng truyền xuống 1 cột thường lớn hoặc rất lớn (còn tuỳ thuộc vào kết cấu như mạng lưới cột, khẩu độ,…), nếu sử dụng cọc ép thì số lượng cọc sẽ rất nhiều, cho máy ép cọc có lực ép đầu cọc. Ví dụ tải trọng truyền xuống 700 T/ đài, mỗi cọc chịu được 50 T thì cần trên 14 cọc (lưới cọc bố trí 4 x 4). Cứ cho là các cọc thi công bình thường thì kích thước đài cọc sẽ rất lớn (cả chiều cao và chiều rộng). Nếu mặt bằng móng đủ rộng để bố trí đài cọc và không ảnh hưởng đến các hạng mục hạ tầng, phương án móng đó hoàn hợp lý.

Tuy nhiên, nhà cao tầng hiện nay có tầng hầm, bể nước ngầm, bể phốt, hệ thống cấp thoát nước, hạ tầng kỹ thuật khác,… chiếm khoảng không gian đáng kể. Với cách bố trí đó có trường hợp mặt bằng công trình không đủ để bố trí cọc, đặc biệt là nhà có quy mô cao tầng. Như vậy, phương án móng cọc ép (hoặc đóng) thường không khả thi mà cần giải pháp móng khác chiếm diện tích nhỏ hơn, sức chịu tải cao hơn. Đó chính là cọc khoan nhồi. Ví dụ với tải trọng công trình trên, đài cọc sẽ gồm 2 cọc khoan nhồi đường kính 800 hoặc chỉ cần một cọc đường kính khoảng 1200 ÷ 1500.

Giải Pháp móng Trong xây dựng dân dụng và công nghiệp

Giải pháp móng trong xây dựng dân dụng và công nghiệp

Việc luận chứng giải pháp móng có ý nghĩa rất quan trọng, từ đó mới có thể đề xuất dạng công tác, khối lượng khảo sát hợp lý, đầy đủ. Việc luận chứng được tiến hành trên cơ sở đã có tài liệu khảo sát địa chất công trình ở giai đoạn trước và quy mô công trình dự kiến. Việc chúng ta là luận chứng giải pháp móng cho phù hợp. Tất nhiên, người khảo sát địa chất công trình không phải là người thiết kế móng, nhưng phải có kiến thức nhất định về nền móng để có thể tư vấn cho bên thiết kế giải pháp móng phù hợp (nếu công trình đó không có gì đặc biệt).
>>>Bộ dụng cụ ốp lát
>>>Bộ dụng cụ xây gạch nhẹ

Các giải pháp móng trong xây dựng dân dụng và công nghiệp


Nhưng không phải ai cũng nhận ra ý nghĩa quan trọng của việc luận chứng này, đặc biệt là sinh viên và kỹ sư địa chất công trình ít kinh nghiệm. Đầu tiên chúng ta phải hiểu công tác khảo sát địa chất công trình giúp cho nhà thiết kế lựa chọn giải pháp móng kinh tế nhất, nhưng phải đảm kỹ thuật, an toàn. Tức là bao giờ cũng chọn giải pháp móng chi phí thấp nhất, thi công đơn giản nhất. Sau khi tính toán về ổn định (theo sức chịu và biến dạng), phương án móng đó đảm bảo thì được chọn. Nếu không đảm bảo ổn định, phương án móng khác sẽ được lựa chọn nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, đương nhiên chi phí sẽ tốn kém hơn. Mức độ chi phí tăng dần (so sánh một cách tương đối thôi) theo các kiểu móng như sau:

Móng băng đơn giản.

Móng băng đã được gia cố bằng cọc tre, cừ tràm, đệm cát,…

Móng cọc đóng.

Móng cọc ép.

Móng cọc khoan nhồi.

Việc luận chứng giải pháp móng đòi hỏi sinh viên địa chất công trình phải có kiến thức nhất định về nền móng, kinh nghiệm thực tế (cái này thì gần như không có gì) và có tư duy logic. Trong đồ án môn học, có sinh viên thiết kế chiều rộng móng nông lên đến 4 → 5m trong với nhà thấp tầng mà chẳng suy nghĩ, thắc mắc gì cả?!. Nguyên nhân do tính toán sai mà không hiểu được móng thực tế như thế nào??? Hoặc hiểu rất mơ hồ về đất tốt, đất yếu nên việc chọn lớp đất đá để đặt móng không hợp lý. Ví dụ với nhà 3 tầng, đó là lớp đất tốt để đặt móng nông, nhưng với nhà 7 → 8 tầng thì không thể đặt móng vào lớp này được. Khái niệm đất tốt, đất yếu chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào quy mô công trình cụ thể và tải trọng truyền xuống móng. Ngoài ra, bao kiến thức học về nền móng (thầy Phương, thầy Thịnh, thầy Hồng, thầy Phóng dạy,…) được học không giúp ích gì đối với rất nhiều SV khi vẽ cái móng. Hiểu một cách đơn giản là không ra một hình thù gì cả, nhìn rất nực cười (người không học họ cũng không vẽ cái móng tệ như vậy ).

Đầu tiên phải nói đến tải trọng công trình truyền xuống móng, có 2 kiểu là truyền xuống cột (tải trọng tập trung, tính trên 1 cột, thường tính cho đài cọc) và tải trọng rải đều, tính theo chiều dài móng (móng băng). Tải trọng truyền xuống có liên quan đến phương án móng.

Tư duy lối mòn cứ nhà thấp tầng là móng nông, trung tầng là móng cọc ép hoặc cọc đóng, cao tầng phải là cọc khoan nhồi là không đúng. Việc đào tạo thiếu cơ sở thực tiễn, nạn sao chép đồ án, ý thức học tập của sinh viên làm ảnh hướng đáng kể chất lượng bản đồ án.

1. Phương án móng nông:

Móng nông được sử dụng đối với công trình quy mô vừa và nhỏ (thường ≤ 5 tầng). Đây là loại móng rất phổ biến ở Việt Nam và là loại móng “rẻ” nhất. Loại móng này tận dụng khả năng làm việc của các lớp đất phía trên cùng. Chính vì vậy khả năng ổn định về sức chịu tải (đại diện là chỉ tiêu sức chịu tải quy ước R0) và biến dạng (mô đun tổng biến dạng E0) của các lớp đất này quyết định tới sự ổn định của công trình.

Điều kiện địa chất công trình như thế nào thì sử dụng phương án móng nông? Nhìn chung, các lớp đất sét (sét pha) ở trạng thái dẻo cứng đến cứng có bề dày đủ lớn (thường 5 → 7 m) phân bố phía trên cùng đều có thể đặt móng nông. Chiều sâu chôn móng phổ biến từ 0.5m đến 3m, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bề dày lớp đất lấp, chiều sâu mực nước dưới đất, sự phân bố của đất yếu. Chiều sâu chôn móng càng lớn, khả năng chịu tải của đất nền càng cao, nhưng cần chú ý đến các lớp đất yếu (bùn hoặc đất loại sét có trạng thái dẻo chảy, chảy) phân bố dưới nó. Nếu có đất yếu nằm ngay dưới lớp đất tốt (khá phổ biến) và nằm trong phạm vi ảnh hưởng của ứng suất gây lún (thường 5 → 10 m dưới đáy móng), hạn chế chiều sâu chôn móng để tận dụng bề dày của lớp tốt bên trên. Nếu chiều sâu chôn móng quá lớn (chi phí đào đắp cao, ảnh hưởng đến các công trình lân cận khi thi công) thì cần xem xét đến giải pháp khác như cọc tre, cừ tràm (nếu có nước dưới đất) hoặc giải pháp ép cọc.

Trong tính toán thiết kế móng nông, kích thước móng phải có kích thước phù hợp thường 0.8m đến 1.4m. Kích thước móng lớn hơn thường phi thực tế, tính toán góc mở sẽ phức tạp và cos nền nhà (mà hầu như không ai quan tâm). Khi bài toán sức chịu tải đã ổn (tức tải trọng công trình truyền xuống nhỏ hơn khả năng chịu tải của đất nền), cần phải kiểm tra độ lún của móng có đảm bảo không (tức là bài toán biến dạng)? Nhà thông thường nhà có độ lún giới hạn Sgh ≤ 8 cm.

Chỉ một trong hai bài toán sức chịu tải hoặc biến dạng không thoả mãn thì phải chuyển phương án móng khác, đó chính móng cọc.

Nhưng phần lớn Đồ án hiện nay bỏ qua phần kiểm tra, tính toán này và tuỳ tiện chọn ngay móng cọc. Như vậy là thiếu sót! Chỉ những ai đã đi làm và đã va chạm với việc thiết kế móng mới có khả năng tư duy chọn phương án móng phù hợp mà không cần tính toán.

2. Phương án móng cọc ép, cọc đóng (cọc ma sát)

Được sử dụng khi phương án móng nông không đáp ứng được về mặt kỹ thuật (không ổn định, biến dạng nhiều) hoặc chi phí xử lý nền trong móng nông quá tốn kém. Có thể do địa tầng chủ yếu gồm các lớp đất yếu phân bố ở phía trên, đất tốt lại nằm sâu phía dưới, hoặc bề dày lớp đất tốt phía trên không đủ lớn, bề dày không ổn định, đất yếu lại phân bố ngay phía dưới với bề dày lớn. Việc chọn giải pháp móng cọc phải có cơ sở, khi tính toán móng nông không đảm bảo kỹ thuật. ( Trường hợp này tôi không đề cập đến các loại máy ép cọc tải trọng lớn hiện nay).

Khi thiết kế móng cọc cần lưu ý các vấn đề sau:

Chọn cọc có kích thước, thép chủ, thép đai phù hợp với thực tế như 200×200, 250×250, 300×300, 350×350, 400×400,…

Chọn độ sâu cọc phải phù hợp với thực tế, tức là có thể thi công bình thường được. Thường sức chịu tải của cọc thiết kế (PTK) được chọn là giá trị nhỏ nhất tính theo vật liệu (PVL), thí nghiệm trong phòng (Pđn) và thí nghiệm hiện trường (Pht – tính theo xuyên tĩnh CPT, xuyên tiêu chuẩn SPT). Để cọc đạt được như yêu cầu thiết kế thì phải đảm bảo:

PVL > Pép cọc > (2÷3) x PTK

Trong đó:

PVL : Sức chịu tải của cọc theo vật liệu.

Pép cọc : Lực ép đầu cọc.

PTK : Sức chịu tải của cọc theo thiết kế.

Rất nhiều SV đặt cọc quá sâu so với thực tế, dẫn đến Pđn (hoặc Pht) có giá trị xấp xỉ thậm chí còn lớn hơn PVL?! Điều đó phi lý vì không thể nào đưa cọc xuống độ sâu đó với biện pháp ép hay đóng thông thường.

Ví dụ: PVL = 120 T, Pđn = 80 T ⇒ PTK= Pđn = 80 T (vì nhỏ hơn).

PVL = 120 T, Pđn = 180 T ⇒ PTK= PVL = 120 T (vì nhỏ hơn).

Đáng tiếc là những lỗi này xảy ra rất phổ biến.

Trường hợp đặt cọc nông quá dẫn đến Pđn (hoặc Pht) nhỏ hơn nhiều PVL, nên không tận dụng khả năng làm việc của cọc, gây lãng phí (phải tăng số cọc trong đài trong khi đó chỉ tăng mỗi cọc thêm 1 vài mét là sức chịu tải tăng lên). Chiều của cọc thường được quyết định bởi Pép cọc hoặc theo độ chối với cọc đóng. Từ đó dẫn đến PTK thường dao động trong một phạm vi nhất định như sau:

15 Đến 25 T (cọc 200×200)

20 Đến 35 T (cọc 250×250)

35 Đến 55 T (cọc 300×300)

50 Đến 70 T (cọc 350×350)

Như vậy với kích thước cọc xác định, PTK chỉ đạt đến 1 giá trị nào đó, dẫn đến độ sâu cọc thiết kế phải phù hợp (chứ không phải đặt đâu cũng được). Còn số lượng cọc trong 1 đài thì sao? Khi tính toán, nhiều SV sử dụng kiểu làm tròn số học, tức là làm tròn lên nếu số lẻ lớn hơn 0.5 (ví dụ 3.6 được làm tròn thành 4 cọc) và làm tròn xuống nếu số lẻ nhỏ hơn 0.5 (ví dụ 3.2 được làm tròn thành 3 cọc). Trường hợp làm tròn xuống rất nguy hiểm vì số cọc còn lại phải gánh thêm tải trọng dư thừa kia, dễ gây mất ổn định.

Ngoài ra còn chú ý đến điều kiện và phương pháp thi công. Khu vực đô thị không được dùng phương pháp đóng cọc, khu vực chật hẹp không sử dụng được phương pháp ép đối tải (phải sử dụng phương pháp neo), nếu là nhà xây chen thì không thể ép sát vào nhà bên cạnh được, nhiều trường hợp cọc không đạt độ sâu thiết kế do ma sát của các lớp đất phía trên quá lớn (dẫn đến trường hợp khoan mồi),…

3. Phương án móng cọc khoan nhồi:

Phương án móng cọc nhồi thường được với nhà cao tầng (thường trên 10 tầng). Rõ ràng cọc khoan nhồi chi phí tốn kém hơn so với cọc ép nên không ai muốn sử dụng, trừ trường hợp bắt buộc do cọc ép (hoặc cọc đóng) không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật. Thật sai lầm khi nghĩ rằng cứ nhà cao tầng là phải sử dụng cọc khoan nhồi! Tại khu đô thị mới Linh Đàm, Định Công,…, chung cư quy mô 12 ÷ 14 tầng đều sử dụng cọc đóng (đều không có hầm ngầm). Cần phải khẳng định rằng chất lượng cọc ép thường ổn định và dễ kiểm soát hơn nhiều so với cọc khoan nhồi.

Với nhà cao tầng, tải trọng truyền xuống 1 cột thường lớn hoặc rất lớn (còn tuỳ thuộc vào kết cấu như mạng lưới cột, khẩu độ,…), nếu sử dụng cọc ép thì số lượng cọc sẽ rất nhiều, cho máy ép cọc có lực ép đầu cọc. Ví dụ tải trọng truyền xuống 700 T/ đài, mỗi cọc chịu được 50 T thì cần trên 14 cọc (lưới cọc bố trí 4 x 4). Cứ cho là các cọc thi công bình thường thì kích thước đài cọc sẽ rất lớn (cả chiều cao và chiều rộng). Nếu mặt bằng móng đủ rộng để bố trí đài cọc và không ảnh hưởng đến các hạng mục hạ tầng, phương án móng đó hoàn hợp lý.

Tuy nhiên, nhà cao tầng hiện nay có tầng hầm, bể nước ngầm, bể phốt, hệ thống cấp thoát nước, hạ tầng kỹ thuật khác,… chiếm khoảng không gian đáng kể. Với cách bố trí đó có trường hợp mặt bằng công trình không đủ để bố trí cọc, đặc biệt là nhà có quy mô cao tầng. Như vậy, phương án móng cọc ép (hoặc đóng) thường không khả thi mà cần giải pháp móng khác chiếm diện tích nhỏ hơn, sức chịu tải cao hơn. Đó chính là cọc khoan nhồi. Ví dụ với tải trọng công trình trên, đài cọc sẽ gồm 2 cọc khoan nhồi đường kính 800 hoặc chỉ cần một cọc đường kính khoảng 1200 ÷ 1500.
Đọc thêm..

Tư Vấn Chọn gạch xi măng

Trong xây dựng nhà tầng và bê tông cốt thép
=>bộ dụng cụ xây gạch không nung

I.             Các vị trí tường xây trong dự án nhà ở cao tầng:
1.      Tường bao ngoài:
-          Yêu cầu độ dầy tường xây chưa tính lớp trát:   ≥ 140 mm (+ 150 / 170 / 200 mm).
-          Loại gạch: Gạch đặc hoặc gạch lỗ rỗng ≥ 3 thành vách.
-          Tính năng: Cách nhiệt, cách âm tốt.    Xem tiêu chuẩn đính kèm***
2.      Tường ngăn có thi công điện nước:
-          Độ dầy tường xây chưa tính lớp trát: ≥ 105 mm (+ 120 / 140 / 150 / 170 / 200 mm).
-          Loại gạch:
* Gạch đặc: xây bình thường.
* Gạch lỗ ≥ 105 mm (+ 120 / 140 / 150 / 170 / 190 / 200 mm): Phải sử dụng gạch 3 hoặc 4 thành vách. Lý do: khi khoan cắt theo chiều ngang, chỉ tác động đến một bức vách. Với 2 hoặc 3 bức vách còn lại, viên gạch và bức tường vẫn đảm bảo kết cấu bền vững.
3.      Tường ngăn có cửa sổ, cửa ra vào:
-          Lanh tô: phải âm vào khối xây từ 400 đến 500 mm mỗi bên (lanh tô cần dài hơn chiều rộng cửa 800 đến 1.000 mm.
-          Khi xây khung cửa, tại vị trí “viên nửa” nên chèn gạch đặc, không chèn bằng viên nửa của của gạch lỗ. Lý do: tạo mặt phẳng và đủ vách gắn kết với khung cửa.
Lưu ý chung:
-          Nên dùng gạch có chiều cao 130 mm thay cho gạch 190 mm để dễ dàng chèn vữa liên kết giữa hai viên liền nhau, đảm bảo khối xây được chèn đủ vữa.
-          Dùng gạch có chiều cao 130 mm, thao tác của thợ xây sẽ được đảm bảo và khối xây sẽ có hệ số mạch vữa liên kết đạt mức tối ưu).

4.       Tường xây đòi hỏi có cốt thép âm tường:
-          Dùng gạch lỗ thủng, khuyết 2 đầu: lỗ thẳng hàng khi đặt so le viên gạch giữa tầng trên và tầng dưới hoặc có thể xây trùng mạch.

-          Modul gạch lỗ thủng: xây tường rộng 100 / 150 / 190 mm. Mã gạch có ký hiệu cuối là T3.

5.      Tường chịu lực:

-          Dùng gạch đặc nếu không phải cân nhắc đến tải trọng.

-          Dùng gạch lỗ rỗng 4 thành vách.


II.          Lựa chọn vữa & Quy cách xây – trát:
1.      Lựa chọn vữa xây trát:
-          Dùng vữa xây thông thường (xi măng + cát sạch).
-          Vữa xây phải đạt mác ≥ 50 (+75).
-          Lớp trát ưu tiên sử dụng vữa mác 75.
-          Vì gạch XMCL Khang Minh có cường độ chịu nén cao, chống thấm tốt nên không trộn vữa xây trát quá ướt (trộn dẻo vữa).
2.      Quy cách xây:

-          Nếu là gạch lỗ rỗng: xây úp, ngửa mặt đáy lên trên (liền mặt) để thuận tiện rải vữa khi xây.

-          Gạch xây chèn 2 đầu hồi (tiếp giáp cột): Có giải pháp cắt viên gạch lỗ khổ lớn thành các modul 1/2, 1/3 hoặc dùng gạch đặc chuyên dụng để xây chèn. Ví dụ: Bức tường xây bằng gạch 390*140*130mm: cắt gạch theo modul 1/2, 1/3 hoặc dùng gạch đặc 60*140*120mm để xây ghép các chỗ khuyết ở 02 đầu hồi. Dùng gạch đặc xây chèn cổ trần.

-          Nếu các bức tường xây có gắn với nhau: phải lựa chọn các loại gạch có cùng chiều cao để thuận tiện xây khóa 2 bức tường. VD: chiều dầy 60mm (gạch đặc); Chiều cao 130mm (gạch lỗ rỗng 3 - 4 thành vách); Chiều cao 190mm (gạch lỗ rỗng).

-          Tại điểm giao nối giữa tường gạch XMCL và cột bê tông, nên đặt thêm các lưới thép để tăng tính liên kết và trung bình cứ 400mm tùy theo chiều cao của các hàng gạch, gắn râu thép (khoan lỗ vào cột bê tông) để nối tường và cột (giống như quy cách xây gạch đất sét nung).

-          Tại vị trí khung cửa, nên xây chèn gạch đặc vào các tại vị trí “viên nửa” để tạo phẳng vách mặt đứng, để khung cửa được gắn kết an toàn, chắc chắn hơn.     ( Xem hình minh họa )

3.      Quy cách trát:

-          Vì gạch Khang Minh có khả năng chống thấm rất tốt, nên vữa trát phải trộn dẻo, mác 75.

-          Lớp trát không quá dầy (< 15mm) để tránh hiện tượng xệ vữa, gây nứt chân chim và lãng phí. Nên trát vữa vào bức tường làm 2 lớp đè lên nhau, mỗi lớp dầy dưới 8mm trước khi xoa nhẵn bề mặt.

-          Với những điểm cần trát bù sau khi thi công điện nước, phải gắn lớp lưới thép vào lớp gạch trước khi trát để tránh rạn chân chim giữa 2 lớp trát trước và sau.

-          Có thể áp dụng Quy chuẩn, Quy cách trát cột bê tông trong quá trình trát tường gạch XMCL Khang Minh.


III.       Những điểm cần lưu ý khác:        
1.      Trọng lượng viên gạch:

Mặc dù trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 cho phép Gạch XMCL có thể nặng đến 20kg/viên nhưng để đảm bảo chất lượng tốt nhất của khối xây, Gạch Khang Minh đề nghị khách hàng nên chọn loại gạch nặng không nặng quá 16kg/viên vì những lý do sau:

-          Đảm bảo sức khỏe và năng xuất làm việc cho thợ xây, đặc biệt là những công trình có khối lượng xây dựng lớn, thi công tại những nơi có điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

-          Kích thước và trọng lượng gạch phù hợp sẽ giúp cho người thợ đảm bảo được chất lượng và sự ổn định của khối xây. VD: rải vữa đều và đủ, căn chỉnh viên gạch chính xác.

2.      Khả năng chống thấm của gạch XMCL Khang Minh:

Mặc dù trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 không đề cập đến khả năng chống thấm và tốc độ hút nước của gạch XMCL xây tường có trát nhưng chúng tôi đề nghị khách hàng nên lựa chọn hoặc quản lý tách biệt giữa gạch Khang Minh và gạch XMCL không chống thấm vì những lý do sau:

-          Tốc độ hút nước của gạch Khang Minh (chống thấm) và gạch không chống thấm là khác nhau. Điều này tạo ra sự khác biệt lớn về chất lượng giữa khối xây bằng gạch Khang Minh với khối xây bằng gạch không chống thấm khác.

-          Với gạch có khả năng chống thấm cao, không nên trộn vữa quá ướt vì có thể làm giảm tốc độ xây trát khi thi công.

-          Với gạch có khả năng chống thấm cao, khối xây sẽ bền vững và an toàn hơn, đặc biệt là đối với những bức tường xây bao ngoài, xây ngăn nhà vệ sinh...



IV.       Tài liệu tham khảo:
-          TCVN 3121:2003    Vữa xây dựng – Phương pháp thứ.
-          TCVN 4085:1985    Kết cấu gạch đá – Quy phạm thi công và nghiệm thu.
-          TCVN 4314:2003    Vữa xây dựng – Yêu cầu kỹ thuật.
-          TCVN 7572:2006    Cốt liệu cho bê tông và vữa – Phương pháp thử.
-          TCVN 6477:2011    Gạch bê tông.
-          ASTM C140               Gạch bê tông (Tiêu chuẩn Mỹ).

TƯ vấn chọn gạch xi măng cốt thép

TƯ vấn chọn gạch xi măng cốt thép

Tư Vấn Chọn gạch xi măng

Trong xây dựng nhà tầng và bê tông cốt thép
=>bộ dụng cụ xây gạch không nung

I.             Các vị trí tường xây trong dự án nhà ở cao tầng:
1.      Tường bao ngoài:
-          Yêu cầu độ dầy tường xây chưa tính lớp trát:   ≥ 140 mm (+ 150 / 170 / 200 mm).
-          Loại gạch: Gạch đặc hoặc gạch lỗ rỗng ≥ 3 thành vách.
-          Tính năng: Cách nhiệt, cách âm tốt.    Xem tiêu chuẩn đính kèm***
2.      Tường ngăn có thi công điện nước:
-          Độ dầy tường xây chưa tính lớp trát: ≥ 105 mm (+ 120 / 140 / 150 / 170 / 200 mm).
-          Loại gạch:
* Gạch đặc: xây bình thường.
* Gạch lỗ ≥ 105 mm (+ 120 / 140 / 150 / 170 / 190 / 200 mm): Phải sử dụng gạch 3 hoặc 4 thành vách. Lý do: khi khoan cắt theo chiều ngang, chỉ tác động đến một bức vách. Với 2 hoặc 3 bức vách còn lại, viên gạch và bức tường vẫn đảm bảo kết cấu bền vững.
3.      Tường ngăn có cửa sổ, cửa ra vào:
-          Lanh tô: phải âm vào khối xây từ 400 đến 500 mm mỗi bên (lanh tô cần dài hơn chiều rộng cửa 800 đến 1.000 mm.
-          Khi xây khung cửa, tại vị trí “viên nửa” nên chèn gạch đặc, không chèn bằng viên nửa của của gạch lỗ. Lý do: tạo mặt phẳng và đủ vách gắn kết với khung cửa.
Lưu ý chung:
-          Nên dùng gạch có chiều cao 130 mm thay cho gạch 190 mm để dễ dàng chèn vữa liên kết giữa hai viên liền nhau, đảm bảo khối xây được chèn đủ vữa.
-          Dùng gạch có chiều cao 130 mm, thao tác của thợ xây sẽ được đảm bảo và khối xây sẽ có hệ số mạch vữa liên kết đạt mức tối ưu).

4.       Tường xây đòi hỏi có cốt thép âm tường:
-          Dùng gạch lỗ thủng, khuyết 2 đầu: lỗ thẳng hàng khi đặt so le viên gạch giữa tầng trên và tầng dưới hoặc có thể xây trùng mạch.

-          Modul gạch lỗ thủng: xây tường rộng 100 / 150 / 190 mm. Mã gạch có ký hiệu cuối là T3.

5.      Tường chịu lực:

-          Dùng gạch đặc nếu không phải cân nhắc đến tải trọng.

-          Dùng gạch lỗ rỗng 4 thành vách.


II.          Lựa chọn vữa & Quy cách xây – trát:
1.      Lựa chọn vữa xây trát:
-          Dùng vữa xây thông thường (xi măng + cát sạch).
-          Vữa xây phải đạt mác ≥ 50 (+75).
-          Lớp trát ưu tiên sử dụng vữa mác 75.
-          Vì gạch XMCL Khang Minh có cường độ chịu nén cao, chống thấm tốt nên không trộn vữa xây trát quá ướt (trộn dẻo vữa).
2.      Quy cách xây:

-          Nếu là gạch lỗ rỗng: xây úp, ngửa mặt đáy lên trên (liền mặt) để thuận tiện rải vữa khi xây.

-          Gạch xây chèn 2 đầu hồi (tiếp giáp cột): Có giải pháp cắt viên gạch lỗ khổ lớn thành các modul 1/2, 1/3 hoặc dùng gạch đặc chuyên dụng để xây chèn. Ví dụ: Bức tường xây bằng gạch 390*140*130mm: cắt gạch theo modul 1/2, 1/3 hoặc dùng gạch đặc 60*140*120mm để xây ghép các chỗ khuyết ở 02 đầu hồi. Dùng gạch đặc xây chèn cổ trần.

-          Nếu các bức tường xây có gắn với nhau: phải lựa chọn các loại gạch có cùng chiều cao để thuận tiện xây khóa 2 bức tường. VD: chiều dầy 60mm (gạch đặc); Chiều cao 130mm (gạch lỗ rỗng 3 - 4 thành vách); Chiều cao 190mm (gạch lỗ rỗng).

-          Tại điểm giao nối giữa tường gạch XMCL và cột bê tông, nên đặt thêm các lưới thép để tăng tính liên kết và trung bình cứ 400mm tùy theo chiều cao của các hàng gạch, gắn râu thép (khoan lỗ vào cột bê tông) để nối tường và cột (giống như quy cách xây gạch đất sét nung).

-          Tại vị trí khung cửa, nên xây chèn gạch đặc vào các tại vị trí “viên nửa” để tạo phẳng vách mặt đứng, để khung cửa được gắn kết an toàn, chắc chắn hơn.     ( Xem hình minh họa )

3.      Quy cách trát:

-          Vì gạch Khang Minh có khả năng chống thấm rất tốt, nên vữa trát phải trộn dẻo, mác 75.

-          Lớp trát không quá dầy (< 15mm) để tránh hiện tượng xệ vữa, gây nứt chân chim và lãng phí. Nên trát vữa vào bức tường làm 2 lớp đè lên nhau, mỗi lớp dầy dưới 8mm trước khi xoa nhẵn bề mặt.

-          Với những điểm cần trát bù sau khi thi công điện nước, phải gắn lớp lưới thép vào lớp gạch trước khi trát để tránh rạn chân chim giữa 2 lớp trát trước và sau.

-          Có thể áp dụng Quy chuẩn, Quy cách trát cột bê tông trong quá trình trát tường gạch XMCL Khang Minh.


III.       Những điểm cần lưu ý khác:        
1.      Trọng lượng viên gạch:

Mặc dù trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 cho phép Gạch XMCL có thể nặng đến 20kg/viên nhưng để đảm bảo chất lượng tốt nhất của khối xây, Gạch Khang Minh đề nghị khách hàng nên chọn loại gạch nặng không nặng quá 16kg/viên vì những lý do sau:

-          Đảm bảo sức khỏe và năng xuất làm việc cho thợ xây, đặc biệt là những công trình có khối lượng xây dựng lớn, thi công tại những nơi có điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

-          Kích thước và trọng lượng gạch phù hợp sẽ giúp cho người thợ đảm bảo được chất lượng và sự ổn định của khối xây. VD: rải vữa đều và đủ, căn chỉnh viên gạch chính xác.

2.      Khả năng chống thấm của gạch XMCL Khang Minh:

Mặc dù trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 không đề cập đến khả năng chống thấm và tốc độ hút nước của gạch XMCL xây tường có trát nhưng chúng tôi đề nghị khách hàng nên lựa chọn hoặc quản lý tách biệt giữa gạch Khang Minh và gạch XMCL không chống thấm vì những lý do sau:

-          Tốc độ hút nước của gạch Khang Minh (chống thấm) và gạch không chống thấm là khác nhau. Điều này tạo ra sự khác biệt lớn về chất lượng giữa khối xây bằng gạch Khang Minh với khối xây bằng gạch không chống thấm khác.

-          Với gạch có khả năng chống thấm cao, không nên trộn vữa quá ướt vì có thể làm giảm tốc độ xây trát khi thi công.

-          Với gạch có khả năng chống thấm cao, khối xây sẽ bền vững và an toàn hơn, đặc biệt là đối với những bức tường xây bao ngoài, xây ngăn nhà vệ sinh...



IV.       Tài liệu tham khảo:
-          TCVN 3121:2003    Vữa xây dựng – Phương pháp thứ.
-          TCVN 4085:1985    Kết cấu gạch đá – Quy phạm thi công và nghiệm thu.
-          TCVN 4314:2003    Vữa xây dựng – Yêu cầu kỹ thuật.
-          TCVN 7572:2006    Cốt liệu cho bê tông và vữa – Phương pháp thử.
-          TCVN 6477:2011    Gạch bê tông.
-          ASTM C140               Gạch bê tông (Tiêu chuẩn Mỹ).

TƯ vấn chọn gạch xi măng cốt thép
Đọc thêm..

Những bí quyết chống thấm nhà ở




Về lý thuyết, trong một ngôi nhà, hầu như chỗ nào cũng có thể bị thấm vì tác động của môi trường. Một chút nước đọng trên mái, mối nối của đinh vít lợp mái tôn, khe nút giữa khuôn cửa và tường... Khi đã có một lỗ nhỏ rò rỉ, thì chống thấm bắt đầu là một "hành trình gian nan".
>>>dụng cụ xây gạch nhẹ
>>>Dụng cụ ốp lát

Đa số vật liệu xây dựng và hoàn thiện (bê tông, gạch ốp lát, ngói...) đều có những lỗ nhỏ li ti trên bề mặt và những khe nứt do chịu tác động của môi trường và quá trình thi công, sử dụng. Từ những "lỗ kim" ấy, dưới sự thay đổi của thời tiết sẽ có thể là khởi đầu của tình trạng thấm dột sau này. Vì vậy, cần lưu ý thêm một vài quan niệm trong sử dụng và thiết kế từ lúc định hình ý tưởng cơ bản của ngôi nhà.


Bí quyết chống thấm nhà

- Các bề mặt tường tiếp xúc với hướng khí hậu khắc nghiệt nên dùng biện pháp che chắn, giảm bức xạ như tạo mảng cây xanh leo có kết hợp vòi phun nước giúp cho bề mặt tường không bị co ngót đột ngột do thay đổi nhiệt độ.


- Cần lưu ý mái bằng thực chất là một mái dốc có độ dốc nhỏ chứ không phẳng ngang như... mặt bàn. Do đó phải tính toán phân thủy hợp lý với các khoảng đánh dốc không quá dài, bố trí nhiều rãnh và lỗ thu nước. Hạn chế các chướng ngại vật làm cản hướng thoát nước trên mái như cột trang trí, bồn hoa... Nhiều "khổ chủ" đã đúc kết rằng nếu đã làm mái bằng thì phải thường xuyên sử dụng mái bằng ấy, ví dụ như làm chỗ tập thể dục, trồng cây cảnh... Nếu không, thà lợp mái ngói hoặc tôn lên trên mái bằng còn hơn để trống, vừa đỡ phải chống thấm, vừa có thể chống nóng, giảm bụi.

- Trong xử lý chống thấm, có khoảng 50% liên quan đến đường ống cấp thoát nước. Chất lượng ống, quy cách thi công, xử lý mối nối... đều có thể sai sót gây thấm khó lường. Thậm chí, đường ống thoát nước ngưng tụ của máy lạnh dù chỉ là một đoạn ống D21 nhỏ xíu mà không tính toán từ đầu cũng gây thấm tường hoặc sàn rất khó chịu.
Bí quyết chống thấm nhà


Hãy quan sát ngôi nhà truyền thống của cha ông thuở trước với bộ mái dốc đưa ra xa so với mặt nhà nên hầu như không phải chống thấm (chỉ chống dột khi vật liệu lợp mái như lá hoặc ngói bị hư mục cục bộ chỗ nào đó). Nhiều nhà biệt thự hiện nay ưa dùng là cách không làm seno chạy quanh mái nữa mà bố trí mái ngói thoát nước trực tiếp xa xung quanh sân vườn kiểu "giọt tranh hàng hiên" truyền thống. Tất nhiên, cách thoát nước này phải tính toán để không đưa nước sang nhà bên cạnh hoặc nước tạt theo gió vào nhà.
Đó là những bí quyết chống thấm nhà hi vọng đọc song bài viết các bạn sẽ có cái nhìn tổng quan về chống thấm nhà

Bí quyết chống thấm nhà

Những bí quyết chống thấm nhà ở




Về lý thuyết, trong một ngôi nhà, hầu như chỗ nào cũng có thể bị thấm vì tác động của môi trường. Một chút nước đọng trên mái, mối nối của đinh vít lợp mái tôn, khe nút giữa khuôn cửa và tường... Khi đã có một lỗ nhỏ rò rỉ, thì chống thấm bắt đầu là một "hành trình gian nan".
>>>dụng cụ xây gạch nhẹ
>>>Dụng cụ ốp lát

Đa số vật liệu xây dựng và hoàn thiện (bê tông, gạch ốp lát, ngói...) đều có những lỗ nhỏ li ti trên bề mặt và những khe nứt do chịu tác động của môi trường và quá trình thi công, sử dụng. Từ những "lỗ kim" ấy, dưới sự thay đổi của thời tiết sẽ có thể là khởi đầu của tình trạng thấm dột sau này. Vì vậy, cần lưu ý thêm một vài quan niệm trong sử dụng và thiết kế từ lúc định hình ý tưởng cơ bản của ngôi nhà.


Bí quyết chống thấm nhà

- Các bề mặt tường tiếp xúc với hướng khí hậu khắc nghiệt nên dùng biện pháp che chắn, giảm bức xạ như tạo mảng cây xanh leo có kết hợp vòi phun nước giúp cho bề mặt tường không bị co ngót đột ngột do thay đổi nhiệt độ.


- Cần lưu ý mái bằng thực chất là một mái dốc có độ dốc nhỏ chứ không phẳng ngang như... mặt bàn. Do đó phải tính toán phân thủy hợp lý với các khoảng đánh dốc không quá dài, bố trí nhiều rãnh và lỗ thu nước. Hạn chế các chướng ngại vật làm cản hướng thoát nước trên mái như cột trang trí, bồn hoa... Nhiều "khổ chủ" đã đúc kết rằng nếu đã làm mái bằng thì phải thường xuyên sử dụng mái bằng ấy, ví dụ như làm chỗ tập thể dục, trồng cây cảnh... Nếu không, thà lợp mái ngói hoặc tôn lên trên mái bằng còn hơn để trống, vừa đỡ phải chống thấm, vừa có thể chống nóng, giảm bụi.

- Trong xử lý chống thấm, có khoảng 50% liên quan đến đường ống cấp thoát nước. Chất lượng ống, quy cách thi công, xử lý mối nối... đều có thể sai sót gây thấm khó lường. Thậm chí, đường ống thoát nước ngưng tụ của máy lạnh dù chỉ là một đoạn ống D21 nhỏ xíu mà không tính toán từ đầu cũng gây thấm tường hoặc sàn rất khó chịu.
Bí quyết chống thấm nhà


Hãy quan sát ngôi nhà truyền thống của cha ông thuở trước với bộ mái dốc đưa ra xa so với mặt nhà nên hầu như không phải chống thấm (chỉ chống dột khi vật liệu lợp mái như lá hoặc ngói bị hư mục cục bộ chỗ nào đó). Nhiều nhà biệt thự hiện nay ưa dùng là cách không làm seno chạy quanh mái nữa mà bố trí mái ngói thoát nước trực tiếp xa xung quanh sân vườn kiểu "giọt tranh hàng hiên" truyền thống. Tất nhiên, cách thoát nước này phải tính toán để không đưa nước sang nhà bên cạnh hoặc nước tạt theo gió vào nhà.
Đó là những bí quyết chống thấm nhà hi vọng đọc song bài viết các bạn sẽ có cái nhìn tổng quan về chống thấm nhà
Đọc thêm..

Thông số kỹ thuật nẹp góc vuông



Kích thước: 190mm x 190mm
Hãng sản xuất : Đại Lâm JSC
Xuất xứ: Việt Nam
Chất liệu: Thép
Đại Lâm JSC chuyên cung cấp các loại nẹp góc vuông,nẹp góc cạnh dùng để trang trí trong các công trình xây dựng. Nẹp góc vuông có tác dụng bảo vệ các góc cạnh tường, nẹp góc cho các đồ nội thất, vách ngăn, vừa tạo điểm nhấn vừa tiện lợi trong thi công và được nhiều người tin dùng.
Xem thêm:
thanh nhựa kê kính
Nở nhựa chịu lực

Nep Góc Vuông ( dưỡng góc ) ( MÃ SP: KV 01 )

Thông số kỹ thuật nẹp góc vuông



Kích thước: 190mm x 190mm
Hãng sản xuất : Đại Lâm JSC
Xuất xứ: Việt Nam
Chất liệu: Thép
Đại Lâm JSC chuyên cung cấp các loại nẹp góc vuông,nẹp góc cạnh dùng để trang trí trong các công trình xây dựng. Nẹp góc vuông có tác dụng bảo vệ các góc cạnh tường, nẹp góc cho các đồ nội thất, vách ngăn, vừa tạo điểm nhấn vừa tiện lợi trong thi công và được nhiều người tin dùng.
Xem thêm:
thanh nhựa kê kính
Nở nhựa chịu lực
Đọc thêm..

Tư vấn thiết kế nhà

Bộ dụng cụ xây gạch nhẹ